1. Thuốc Slinda là thuốc gì?
Slinda được sản xuất bởi Leon Pharma với thành phần hoạt chất chính Drospirenone, là thuốc tránh thai hàng ngày đường uống.
2. Thành phần thuốc Slinda
Mỗi viên nén màu trắng có chứa hoạt chất:
Thành phần hoạt chất: Drospirenone 4,0mg;
Thành phần tá dược: Microcrystalline cellulose, Lactose anhydrous, colloidal silicon dioxide, magnesium stearate, white coating system (Polyvinyl alcohol partially hydrolyzed, titanium dioxide. polyethylene glycol (macrogol) 3350, talc).
Mỗi viên nén màu xanh lá có giả dược chứa:
Thành phần tá dược: Lactose monohydrate, corn starch, povidone K-30, colloidal silicon dioxide, magnesium stearate, green coating system (Hypromellose 2910, Triacetin, Polysorbate 80, Titanium dioxide, FD&C Blue 2 aluminium lake, Yellow ferrie Oxide)
3. Dạng bào chế
Viên nén bao phim.
Viên màu trắng có hoạt tính: Viên nén hình tròn, màu trắng, có khắc chữ D trên một mặt và chữ E trên mặt còn lại.
Viên màu xanh lá có giả dược: Viên nén hình tròn, màu xanh lá, có khắc chữ E trên một mặt và số 4 trên mặt còn lại.
4. Chỉ định
Thuốc tránh thai đường uống.
5. Liều dùng
Cách sử dụng Slinda
Uống 1 viên mỗi ngày trong 28 ngày liên tiếp: uống 1 viên thuốc có hoạt tính màu trắng/ ngày trong 24 ngày đầu tiên và uống 1 viên giả dược màu xanh lá/ ngày trong 4 ngày tiếp theo. Thuốc phải được uống vào cùng một thời điểm trong ngày để khoảng cách giữa hai viên luôn là 24 giờ. Nên uống thuốc theo thứ tự hiển thị trên vỉ. Nhãn đánh dấu ngày sử dụng với 7 ngày trong tuần được cung cấp trong hộp thuốc. Người sử dụng nên chọn nhãn bắt đầu là ngày đầu tiên uống thuốc và dán nó lên vỉ.
Uống viên thuốc đầu tiên vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt. Sau đó tiếp tục uống các viên khác. Vỉ tiếp theo được bắt đầu ngay sau khi kết thúc vỉ trước đó, không có ngày nghỉ giữa 2 vỉ.
Bắt đầu dùng Slinda
Không sử dụng phương pháp tránh thai hormone trước đó (trong tháng trước)
Bắt đầu uống thuốc vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt (ngày đầu tiên có kinh nguyệt) và không cần thiết có biện pháp tránh thai bổ sung.
Sau khi chấm dứt thai kỳ ở ba tháng đầu
Sau khi chấm dứt thai kỳ ở ba tháng đầu, nên bắt đầu dùng Slinda ngay. Không cần sử dụng phương pháp tránh thai bổ sung.
Sau khi sinh hoặc sau chấm dứt thai kỳ ở ba tháng giữa thai kỳ
Nên bắt đầu dùng Slinda từ 21 đến 28 ngày sau khi sinh hoặc sau chấm dứt thai kỳ ở ba tháng giữa thai kỳ.
Nếu bắt đầu dùng Slinda sau khoảng thời gian này nhưng chưa có kinh trở lại, phải loại trừ khả năng mang thai và sử dụng biện pháp tránh thai bổ sung trong tuần đầu tiên.
Phụ nữ cho con bú: xem mục SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ.
Đổi từ biện pháp tránh thai hormone kết hợp (thuốc tránh thai đường uống kết hợp (COC), vòng âm đạo hoặc miếng dán qua da)
Nên bắt đầu dùng Slinda tốt nhất là ngay sau ngày uống viên có hoạt tính cuối cùng (viên thuốc cuối cùng chứa hoạt tính) của vỉ COC trước đó hoặc vào ngày tháo vòng âm đạo hoặc miếng dán qua da. Không cần thiết có biện pháp tránh thai bổ sung.
Cũng có thể bắt đầu Slinda trễ nhất vào ngày sau khoảng nghỉ dùng thuốc thông thường, sau ngày tháo vòng, miếng dán hoặc sau thời gian dùng giả dược khi dùng biện pháp tránh thai hormone kết hợp trước đó, nhưng trong 7 ngày đầu uống thuốc, cần thêm biện pháp tránh thai dạng màng chắn.
Đổi từ biện pháp chỉ chứa progestogen (viên uống tránh thai chỉ chứa progestogen (POP), thuốc tiêm, que cấy tránh thai) hoặc từ dụng cụ đặt tử cung phóng thích chỉ chứa progestogen (IUS)
Có thể đổi sang dùng Slinda vào bất kỳ ngày nào khi ngừng thuốc chỉ chứa progestogen (POP) khác và có thể bắt đầu dùng Slinda vào ngày hôm sau, trong vòng 24 giờ. Có thể đổi từ que cấy hoặc dụng cụ đặt tử cung sang Slinda vào ngày tháo que cấy hoặc dụng cụ đặt tử cung. Có thể đổi từ việc dùng thuốc tránh thai đường tiêm và bắt đầu sử dụng Slinda vào ngày tiêm liều thuốc tránh thai tiếp theo. Không cần bổ sung biện pháp tránh thai khác trong các trường hợp này.
Xử trí khi quên thuốc
Thuốc nên được uống mỗi 24 giờ. Nếu thời gian sử dụng một viên thuốc bất kỳ trễ ít hơn 24 giờ, tác dụng tránh thai không bị giảm. Nên uống viên thuốc bị quên ngay khi nhớ ra và tiếp tục dùng thuốc như bình thường. Nếu thời gian sử dụng một viên thuốc có hoạt tính trễ nhiều hơn 24 giờ, tác dụng tránh thai có thể giảm và nên xem xét dùng phương pháp màng chắn như bao cao su trong 7 ngày tiếp theo. Nên uống viên bị quên ngay khi nhớ ra, ngay cả khi phải uống 2 viên cùng một lúc. Sau đó, tiếp tục dùng thuốc như bình thường.
Nếu quên thuốc trong tuần đầu tiên sau khi bắt đầu Slinda và có giao hợp trong tuần trước khi quên thuốc, nên xem xét khả năng mang thai.
Nếu quên thuốc trong tuần thứ ba uống thuốc, nguy cơ giảm độ tin cậy có thể xảy ra do gần đến khoảng thời gian 4 ngày không dùng hormone. Tuy nhiên, bằng cách điều chỉnh lịch uống thuốc, vẫn có thể ngăn ngừa được nguy cơ giảm khả năng tránh thai. Nên uống viên thuốc bị quên cuối cùng ngay khi nhớ ra, ngay cả khi phải uống cả 2 viên cùng lúc. Sau đó, tiếp tục uống các viên thuốc hoạt tính như bình thường. Khuyến cáo không uống các viên giả được và tiếp tục chuyển sang các viên có hoạt tính ở vỉ mới.
Viên giả dược màu xanh lá bị quên có thể bỏ qua. Tuy nhiên, các viên giả dược nên được bỏ qua để tránh kéo dài khoảng thời gian nghỉ giữa việc uống các viên thuốc có hoạt tính.
Trường hợp rối loạn tiêu hóa
Nếu rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng (nôn hoặc tiêu chảy), có thể sẽ làm giảm khả năng hấp thu thuốc, do đó nên có biện pháp tránh thai bổ sung.
Nếu nôn mửa hoặc tiêu chảy xảy ra trong vòng 3-4 giờ sau khi uống thuốc, nên uống viên mới (viên thay thế) càng sớm càng tốt. Viên thuốc mới nên được uống trong vòng 24 giờ so với thời gian uống thuốc thông thường nếu có thể. Nếu quá 24 giờ, nên áp dụng theo mục “Xử trí khi quên thuốc”. Nếu người sử dụng không muốn thay đổi lịch uống thuốc thông thường, nên lấy thêm viên thuốc từ một vỉ khác.
Trẻ em
An toàn và hiệu quả của Slinda đã được thiết lập ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. An toàn và hiệu quả được dự kiến là như nhau đối với thiếu nữ đã dậy thì dưới 18 tuổi và phụ nữ từ 18 tuổi trở lên. Không chỉ định thuốc này cho thiếu nữ chưa có kinh nguyệt.
Đường dùng
Đường uống.
6. Chống chỉ định
Không sử dụng các thuốc tránh thai chỉ có progestogen (POC) như Slinda khi có bất kỳ tình trạng nào được liệt kê dưới đây. Nếu bất kỳ tình trạng nào xuất hiện lần đầu tiên trong quá trình sử dụng Slinda, nên ngừng sử dụng thuốc ngay lập tức.
-
Rối loạn huyết khối tĩnh mạch tiến triển.
-
Đang mắc hoặc có tiền sử bệnh gan nặng mà chức năng gan chưa trở lại bình thường.
-
Suy thận nặng hoặc suy thận cấp.
-
Suy tuyến thượng thận.
-
Đã biết hoặc nghi ngờ các khối u ác tính nhạy cảm với steroid sinh dục.
-
Ra huyết âm đạo không rõ nguyên nhân.
-
Quá mẫn cảm với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào.
7. Tác dụng phụ
Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt là phản ứng bất lợi thường được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng.
Các phản ứng bất lợi thường được báo cáo nhất trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn với hơn 9 chu kỳ điều trị với drospirenone (ở 2700 phụ nữ) là mụn trứng cá (3,8%), rong huyết (2,9%), đau đầu (2,7%) và đau vú (2,2 %).
Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi
Tất cả phản ứng bất lợi được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng ngắn, dài hạn với Slinda được liệt kê trong bảng dưới đây theo hệ cơ quan và tần suất: rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm (1/ 10.000 đến < 1/1.000).
|
Phân loại theo hệ cơ quan (MedDRA phiên bản 17.1) |
Thường gặp |
Ít gặp |
Hiếm gặp |
|
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng |
Nhiễm Candida |
||
|
U lành tính, ác tính và không xác định |
U xơ tử cung |
||
|
Máu và hệ bạch huyết |
Thiếu máu |
||
|
Rối loạn hệ thống miễn dịch |
Mẫn cảm |
||
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng |
Tăng cảm giác thèm ăn Tăng kali huyết |
||
|
Rối loạn tâm thần |
Rối loạn ham muốn tình dục, rối loạn cảm xúc |
Triệu chứng lo âu, trầm cảm, tâm trạng chán nản |
|
|
Rối loạn hệ thần kinh |
Đau đầu |
Chóng mặt |
|
|
Rối loạn mắt |
Không dung nạp kính áp tròng |
||
|
Rối loạn mạch máu |
Đỏ bừng mặt, tăng huyết áp |
||
|
Rối loạn tiêu hóa |
Buồn nôn Đau bụng |
Nôn mửa, tiêu chảy, táo bón |
|
|
Rối loạn da và mô dưới da |
Mụn trứng cá |
Rụng tóc, tăng tiết mồ hôi, phát ban. bệnh bã nhờn, ngứa, viêm da |
|
|
Rối loạn thận và tiết niệu |
Đa niệu |
||
|
Rối loạn hệ sinh sản và vú |
Khó chịu ở vú, rong huyết, xuất huyết âm đạo, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều |
Vô kinh, rối loạn kinh nguyệt, đau vùng xương chậu, u nang buồng trứng, khô âm hộ-âm đạo, âm đạo tiết dịch |
U nang vú Loạn sản cổ tử cung Vú tiết sữa Ngứa âm hộ-âm đạo |
|
Rối loạn chung và tại vị trí sử dụng thuốc |
Mệt mỏi, phù ngoại biên |
||
|
Theo điều tra |
Tăng cân |
Tăng transaminase, tăng bilirubin huyết, tăng creatinine phosphokinase, tăng gamma - glutamyltransferase, tăng triglycerides huyết |
Giảm cân |
Thông báo cho bác sĩ các tác dụng không mong muốn bạn gặp phải khi sử dụng thuốc.
8. Tương tác thuốc
Tương tác thuốc
Ảnh hưởng của các thuốc khác đến SLINDA
Tương tác có thể xảy ra giữa SLINDA và các thuốc cảm ứng enzyme microsome dẫn đến tăng độ thanh thải của hormone giới tính và có thể gây ra huyết bất thường và/ hoặc mất tác dụng tránh thai.
Kiểm soát
Sự cảm ứng enzyme đã có thể quan sát được sau vài ngày điều trị. Cảm ứng enzym tối đa thường thấy trong vòng vài tuần. Sau khi ngừng điều trị. cảm ứng enzyme có thể duy trì trong khoảng 4 tuần.
Điều trị ngắn hạn
Phụ nữ đang điều trị bằng thuốc gây cảm ứng enzyme nên tạm thời sử dụng phương pháp tránh thai dạng màng chắn hoặc phương pháp tránh thai khác kèm với POP. Phương pháp màng chắn phải được sử dụng trong toàn bộ thời gian điều trị bằng thuốc kích ứng enzyme và trong 28 ngày sau khi ngừng thuốc.
Nếu việc điều trị bằng thuốc cảm ứng enzyme kéo dài hơn ngày uống hết các viên hoạt tính trong vỉ POP, nên bỏ các viên giả dược và bắt đầu vỉ POP tiếp theo.
Điều trị dài hạn
Ở những phụ nữ điều trị lâu dài bằng các chất cảm ứng enzyme, nên sử dụng một biện pháp tránh thai khác đáng tin cậy và không có hormone.
Các tương tác sau đây đã được báo cáo trong y văn (chủ yếu xảy ra khi dùng thuốc tránh thai kết hợp nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra ở thuốc chỉ có progestogen).
Các chất làm tăng độ thanh thải của các thuốc tránh thai hormone (làm giảm hiệu quả tránh thai do cảm ứng enzyme), ví dụ: Barbiturates, bosentan, carbamazepine, phenytoin, primidone, rifampicin, và thuốc điều trị HIV ritonavir, nevirapine và efavirenz và có thể cả felbamate, griseofulvin, oxcarbazepine, topiramate và sản phẩm chứa thảo dược St John’s wort (Hpericum perfordafum).
Một số thuốc có ảnh hướng khác nhau trên sự thanh thải của thuốc tránh thai hormone:
Khi dùng đồng thời với hormone sinh dục, nhiều kết hợp của thuốc ức chế HIV protease (ritonavir, nelfinavir) và ức chế sao chép ngược không nucleosid (nevirapine, efavirenz) và/ hoặc kết hợp với thuốc ức chế virus viêm gan C (HCV) (boceprevir, telaprevir), có thể gây tăng hoặc giảm nồng độ huyết tương của progestins. Ảnh hưởng ròng của những thay đổi này có thể có ý nghĩa lâm sàng trong một số trường hợp.
Do đó, nên hiểu rõ thông tin kê toa của thuốc ức chế HIV/HCV để có thể xác định khả năng tương tác và bất kỳ khuyến cáo nào có liên quan. Trong trường hợp có bất kỳ nghi ngờ nào, nên thêm biện pháp tránh thai màng chắn khi điều trị bằng thuốc ức chế protease hoặc ức chế sao chép ngược không nucleoside.
Chất làm giảm thanh thải thuốc tránh thai hormone (ức chế enzyme)
Liên quan giữa khả năng tương tác COC với thuốc ức chế enzyme trên lâm sàng là chưa rõ ràng.
Dùng đồng thời với các chất ức chế mạnh hoặc trung bình CYP3A4 như thuốc kháng nấm nhóm azole (ví dụ: fluconazole, itraconazole, ketoconazole, voriconazole), verapamil, macrolides (ví dụ: clarithromycin, erythromycin), diltiazem và nước ép bưởi chùm (grapefruit) có thể làm tăng nồng độ huyết tương của progestogen.
Trong một nghiên cứu đa liều, đánh giá việc kết hợp thuốc ức chế mạnh CYP3A4 hằng ngày (trong 10 ngày): ketoconazole và 2 thuốc tránh thai hormone kết hợp chứa drospirenone (drospirenone 3mg + estradiol 1,5mg và drospirenone 3mg + ethinylestradiol 0,02 mg) làm tăng AUC (0-24 giờ) của drospirenone lên tương ứng 2,3 lần và 2,7 lần.
Ảnh hưởng của SLINDA đối với các thuốc khác
Thuốc tránh thai hormone có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa của một số thuốc khác. Nồng độ thuốc trong huyết tương và mô có thể tăng (ví dụ: ciclosporine) hoặc giảm (ví dụ: lamotrigine).
Dựa trên các nghiên cứu in vitro và tương tác in vivo ở nữ tình nguyện sử dụng omeprazole, simvastatin và midazolam làm chất nền đánh dấu, tương tác giữa drospirenone với các thuốc khác chuyển hóa qua trung gian cytochrome P450 trên lâm sàng là khó xảy ra.
Tương tác dược lực học
Dữ liệu đã công bố không cho thấy tác dụng đáng kể đối với kali huyết thanh sau khi sử dụng đồng thời drospirenone và thuốc ức chế men chuyên hoặc NSAID ở bệnh nhân không bị suy thận. Việc sử dụng đồng thời Slinda với chất đối kháng aldosterone hoặc thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali chưa được nghiên cứu. Trong trường hợp này, nên kiểm tra kali huyết thanh trong chu kỳ điều trị đầu tiên.
Tương ky
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không dùng lẫn thuốc này với các thuốc khác.
9. Thận trọng khi sử dụng
Nếu có bất kỳ tình trạng/ yếu tố nguy cơ nào được đề cập dưới đây, nên cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của Slinda có thể xảy ra cho từng phụ nữ và thảo luận với họ trước khi quyết định sử dụng Slinda. Trong trường hợp bất kỳ tình trạng nào trở nên tăng nặng, trầm trọng hoặc xuất hiện lần đầu tiên trong thời gian sử dụng thuốc, người sử dụng nên liên hệ với bác sĩ. Bác sĩ sẽ quyết định có nên ngừng sử dụng Slinda hay không.
Tăng kali máu
Drospirenone là một chất đối kháng aldosterone có khả năng giữ kali. Phần lớn trường hợp theo dự đoán không gây tăng nồng độ kali trong máu. Tuy nhiên, nên kiểm tra nồng độ kali máu trong chu kỳ điều trị đầu tiên ở các bệnh nhân suy thận và đã điều trị tăng kali huyết trước đó trong giới hạn trên của khoảng liều tham khảo và khi dùng đồng thời thuốc giữ kali.
Rối loạn thuyên tắc huyết khối
Các nghiên cứu dịch tễ học không chỉ ra mối liên quan giữa các chế phẩm chỉ có progestin và tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, huyết khối não hoặc thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch.
Thuốc tránh thai kết hợp có chứa drospirenone và ethinyl estradiol có thể liên quan đến nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) cao hơn so với những thuốc có chứa một số progestin khác kết hợp với ethinyl estradiol. Chưa rõ liệu nguy cơ VTE có tăng lên khi chỉ dùng drospirenone hay không. Tuy nhiên, nếu có nguy cơ, dự kiến sẽ thấp hơn so với việc dùng thuốc chứa drospirenone kết hợp với ethinyl estradiol.
Khi kê toa Slinda, cần xem xét tăng nguy cơ huyết khối tắc mạch đã có trong thời kỳ hậu sản và ở phụ nữ có tiền sử huyết khi.
Nên ngừng sử dụng Slinda nêu xảy ra biến cố huyết khối động mạch hoặc tĩnh mạch. Nếu có thể, cân nhắc ngừng Slinda trong trường hợp bất động kéo dài do phẫu thuật hoặc do bệnh tật.
Chuyển hóa xương
Điều trị Slinda gây giảm nồng độ estradiol huyết thanh đến nồng độ tương ứng với giai đoạn noãn nang. Hiện tại vẫn chưa rõ giảm nồng độ estradiol huyết thanh có thể làm ảnh hưởng đến mật độ xương trên lâm sàng hay không. Mất mật độ khoáng xương là mối quan tâm đặc biệt trong giai đoạn vị thành niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, là các giai đoạn quan trọng của việc tích lũy xương. Chưa được biết giảm mật độ xương trong dân số này có làm giảm khối lượng xương cao nhất và tăng nguy cơ gãy xương trong những giai đoạn sau hay không.
Ung thư vú
Phân tích gộp từ 54 nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ ung thư vú tương đối tăng nhẹ (RR = 1,24) khi chẩn đoán ở những phụ nữ đang sử dụng thuốc tránh thai đường uống (OC), chủ yếu là các chế phẩm chứa estrogen-progestogen. Nguy cơ dôi ra sẽ dần biến mất trong khoảng 10 năm sau khi ngừng uống thuốc ngừa thai hormone đường uống phối hợp (COC). Vì ung thư vú hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, con số chẩn đoán ung thư vú ở những người đang dùng và vừa dùng COC là rất nhỏ so với nguy cơ ung thư vú nói chung. Các nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về mối quan hệ nhân quả. Nguy cơ gia tăng quan sát được có thể là do chẩn đoán ung thư vú sớm hơn ở người dùng OC, do tác dụng sinh học của OC hoặc kết hợp cả hai. Ung thư vú được chẩn đoán ở người sử dụng OC có xu hướng ít tiến triển lâm sàng hơn so với những phụ nữ chưa bao giờ sử dụng OC.
Nguy cơ mắc ung thư vú được chẩn đoán ở những người sử dụng các thuốc chỉ có progestogen có thể tương tự như nguy cơ ở người sử dụng thuốc tránh thai hormone kết hợp COC. Tuy nhiên, đối với các chế phẩm chỉ có progestogen, bằng chứng dựa trên các nhóm người dùng nhỏ hơn nhiều và do đó kết luận về nguy cơ mắc ung thư vú ở người dùng thuốc chỉ có progesterone ít có tính thuyết phục hơn so với nhóm COC.
Ung thư cổ tử cung
Một số nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng các biện pháp tránh thai hormone tố kết hợp có chứa progestin và estradiol có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung hoặc tân sinh nội biểu mô cổ tử cung. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến đối lập rằng những phát hiện này có thể là do sự khác biệt trong hành vi tình dục và các yếu tố khác.
Các khối u khác
Một số trường hợp hiếm gặp xuất hiện u gan lành tính, thậm chí rất hiếm gặp khối u gan ác tính ở những người dùng thuốc tránh thai hormone dạng kết hợp. Cá biệt, các khối u này có thể dẫn đến xuất huyết trong ổ bụng đe dọa tính mạng. Khối u gan nên được xem xét chân đoán phân biệt khi đau thượng vị nghiêm trọng, gan to hoặc có dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng khi ở phụ nữ sử dụng COCs.
Có thai ngoài tử cung
Việc phòng ngừa có thai ngoài tử cung bằng các loại thuốc chỉ có progestogen truyền thống không tốt bằng thuốc tránh thai kết hợp, là do liên quan đến hiện tượng hay xảy ra rụng trứng khi dùng thuốc chỉ có progestogen. Mặc dù thực tế là Slinda luôn ức chế sự rụng trứng, nhưng vẫn phải tính đến chẩn đoán phân biệt khả năng có thai ngoài tử cung nếu thấy mất kinh hoặc đau bụng.
Chức năng gan
Ngừng thuốc nếu thấy vàng da tiến triển. Hormon steroid có thể được chuyển hóa kém ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan. Người rối loạn chức năng gan cấp tính hoặc mãn tính có thể phải ngừng sử dụng Slinda đến khi chức năng gan trở lại bình thường và loại trừ nguyên nhân do Slinda.
Bệnh đái tháo đường
Mặc dù progestogen có thể ảnh hưởng đến sự đề kháng insulin ngoại biên và dung nạp glucose, nhưng không có bằng chứng cho thấy cần thay đổi phác đồ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường sử dụng thuốc tránh thai chỉ có progestogen (POP) như Slinda. Tuy nhiên, bệnh nhân đái tháo đường nên được theo dõi cân thận trong những tháng đầu tiên sử dụng. Cần đặc biệt chú ý đến bệnh nhân đái tháo đường có liên quan đến mạch máu.
Tình trạng khác
Nếu tăng huyết áp kéo dài trong quá trình sử dụng Slinda hoặc nếu huyết áp tăng đáng kể và không đáp ứng đầy đủ với thuốc hạ huyết áp, nên xem xét ngừng sử dụng Slinda.
Tương tự bất kỳ thuốc tránh thai hormone khác, nám da đôi khi có thể xảy ra, đặc biệt ở những phụ nữ có tiền sử nám do thai nghén. Phụ nữ có xu hướng để bị nám nên tránh tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc tia cực tím trong khi uống Slinda.
Tâm trạng chán nản và trầm cảm là những tác dụng không mong muốn đã biết khi sử dụng thuốc tránh thai hormone. Trầm cảm có thể nghiêm trọng và là 1 yếu tố nguy cơ đã biết đối với tự tử và có hành vi tự tử. Phụ nữ nên liên hệ với bác sĩ của họ trong trường hợp tâm trạng thay đổi và có các triệu chứng trầm cảm, xuất hiện ngay sau khi bắt đầu điều trị.
Các tình trạng sau đây đã được báo cáo cả khi mang thai và trong khi sử dụng steroid sinh dục, nhưng mối liên quan với việc sử dụng progestogen chưa được thiết lập: vàng da và/ hoặc ngứa liên quan đến ứ mật; hình thành sỏi mật; rối loạn chuyển hóa porphyrin; lupus ban đỏ hệ thống; hội chứng tan máu — tăng urê máu; múa giật Sydenham; herpes khi có thai; mất thính lực do xơ cứng tai; phù mạch (di truyền).
Viên có hoạt tính màu trắng chứa 17,5mg lactose; viên giả dược màu xanh lá chứa 55,5mg lactose monohydrate (tương đương 52,7mg lactose). Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Khám/ tư vấn y khoa
Trước khi bắt đầu hoặc tái sử dụng Slinda, cần có tiền sử y tế hoàn chỉnh (bao gồm cả tiền sử cá nhân và gia đình) và loại trừ khả năng có thai. Cần đo huyết áp và khám sức khoẻ theo hướng dẫn ở mục chống chỉ định và thận trọng.
Phụ nữ nên đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tuân thủ các hướng dẫn được đưa ra. Tần suất và bản chất của việc khám sức khỏe phải dựa trên hướng dẫn thực hành đã có và được điều chỉnh cho từng phụ nữ. Thuốc tránh thai đường uống không phòng ngừa lây nhiễm HIV (AIDS) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) khác.
Rối loạn kinh nguyệt
Gián đoạn chu kỳ kinh nguyệt có thể xảy ra trong khi sử dụng thuốc tránh thai hormone ức chế rụng trứng, kể cả Slinda.
Nếu hành kinh thường xuyên hơn và không đều, nên xem xét biện pháp tránh thai khác. Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, cần loại trừ nguyên nhân nội tại của người dùng. Xử trí vô kinh trong khi điều trị phụ thuộc vào việc thuốc có được uống theo hướng dẫn hay không và có thể cần thử thai.
Nên ngưng điều trị nếu có thai.
Giảm hiệu quả
Hiệu quả của POP có thể giảm nếu: quên thuốc, rối loạn tiêu hóahoặc dùng thuốc khác đồng thời.
Các xét nghiệm
Sử dụng steroid tránh thai có thể ảnh hưởng đến kết quả của một số xét nghiệm bao gồm các thông số sinh hóa của gan, tuyến giáp, chức năng tuyến thượng thận và thận, nồng độ protein (chất mang) trong huyết thanh, ví dụ: globulin và lipid/ lipoprotein gắn corticosteroid, các thông số về chuyển hóa carbohydrate và các thông số đông máu và tiêu sợi huyết.
10. Dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú
Phụ nữ mang thai
Không nên dùng Slinda cho phụ nữ mang thai. Nếu có thai trong khi dùng Slinda, nên dừng thuốc ngay lập tức.
Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy không có sự tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh ở trẻ em sinh ra ở những phụ nữ sử dụng drospirenone trước khi mang thai, cũng không gây quái thai khi vô tình uống drospirenone trong thai kỳ.
Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính đối với sinh sản. Dựa trên những dữ liệu từ động vật này, không thể loại trừ các tác dụng không mong muốn do hoạt tính hormone của hoạt chất.
Phụ nữ cho con bú
Drospirenone được bài tiết không đáng kể qua sữa mẹ. Lượng drospirenone mẹ truyền cho con mỗi ngày là dưới 1% liều thuốc của mẹ. Do đó, ở liều điều trị, Slinda được dự đoán không ảnh hưởng đối với trẻ sơ sinh/ trẻ bú mẹ. Dựa trên dữ liệu có sẵn, Slinda có thể được sử dụng trong khi cho con bú.
Khả năng sinh sản
Slinda được chỉ định để tránh thai.
11. Ảnh hưởng của thuốc Slinda lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Không có nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc được tiến hành với SLINDA.
12. Quá liều
Không có báo cáo về tác dụng bất lợi nghiêm trọng do quá liều. Các triệu chứng có thể xảy ra trong trường hợp này là buồn nôn, nôn và ra máu âm đạo nhẹ. Không có thuốc giải độc và nên điều trị triệu chứng.
Drospirenone là một chất tương tự spironolactone có đặc tính kháng mineralocorticoid. Cần theo dõi kali và natri huyết thanh và bằng chứng nhiễm toan chuyển hóa trong trường hợp quá liều.
13. Bảo quản
Bảo quản thuốc Slinda ở nhiệt độ dưới 30 độ C ở nơi khô ráo, tránh ẩm.
Không để thuốc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Không dùng thuốc Slinda quá hạn ghi trên bao bì.
14. Mua thuốc Slinda ở đâu?
Hiện nay, Slinda là thuốc kê đơn, vì vậy bạn cần nói rõ các triệu chứng của bệnh nhân để được nhân viên y tế tư vấn và hỗ trợ. Thuốc có bán tại các bệnh viện hoặc các nhà thuốc lớn.
Mọi người nên tìm hiểu thông tin nhà thuốc thật kỹ để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Nếu mọi người ở khu vực Hà Nội có thể mua thuốc có sẵn ở nhà thuốc Thanh Xuân 1 - địa chỉ tại Số 1 Nguyễn Chính, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài ra, mọi người cũng có thể gọi điện hoặc nhắn tin qua số hotline của nhà thuốc là: 0325095168 - 0387651168 hoặc nhắn trên website nhà thuốc để được nhân viên tư vấn và chăm sóc tận tình.
15. Giá bán
Giá bán thuốc Slinda trên thị trường hiện nay dao động trong khoảng tùy từng địa chỉ mua hàng và giá có thể giao động tùy thời điểm. Mọi người có thể tham khảo giá tại các nhà thuốc khác nhau để mua được thuốc đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý nhất.
“Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, mọi người nên đến thăm khám và hỏi ý kiến bác sĩ có kiến thức chuyên môn để sử dụng an toàn và hiệu quả.”