1. Thuốc Haepril là thuốc gì?
Thuốc Haepril là sản phẩm của công ty B-IF, S.A, Bồ Đào Nha, với thành phần chính Lisinopril là một loại thuốc có tác dụng điều trị tăng huyết áp, suy tim, nhồi máu cơ tim cấp và biến chứng thận của bệnh đái tháo đường.
2. Thành phần thuốc Haepril
- Lisinopril dihydrate ………..5mg
- Tá dược.......... vđ 1 viên (Mannitol, Magnesium stearat, Colloidal anhydrous silica, Calcium hydrogen phosphat dihydrat, Starch maize, Pregelified starch).
3. Chỉ định thuốc Haepril
Thuốc Haepril được chỉ định điều trị:
- Tăng huyết áp: Điều trị tăng huyết áp.
- Suy tim: Điều trị suy tim có triệu chứng.
- Nhồi máu cơ tim cấp: Điều trị ngắn hạn (6 tuần) ở bệnh nhân có huyết động học ổn định trong vòng 24 giờ đầu ở bệnh nhồi máu cơ tim cấp.
- Biến chứng thận của bệnh đái tháo đường: Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp kèm bị đái tháo đường tuýp 2 và biến chứng thận sớm do đái tháo đường.
4. Liều dùng và cách dùng thuốc Haepril
Nên uống Haepril một lần duy nhất mỗi ngày.
Cũng như các thuốc khác dùng một lần duy nhất trong ngày, Haepril nên được uống ở cùng thời điểm trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên nén lisinopril.
Liều lượng tùy thuộc theo tỉnh trạng và đáp ứng huyết áp của từng cá nhân.
Liều lượng
Tăng huyết áp
Haepril có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các nhóm thuốc trị tăng huyết áp nhóm khác.
Liều khởi đầu
Ở bệnh nhân tăng huyết áp, liều khởi đầu được khuyến cáo là 10 mg. Bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosteron hoạt hóa mạnh (đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu-thận thiếu nước và/hoặc thiếu muối, mất bù tim hoặc tăng huyết áp trầm trọng) có thể bị hạ huyết áp quá mức sau khi dùng liều khởi đầu. Nêu dùng liều khởi đầu 2,5-5 mg cho các loại bệnh nhân này và việc khởi đầu điều trị cần có sự theo dõi của bác sĩ. Cần phải dùng liều khởi đầu thấp hơn khi có suy thận (xem Bảng 1 dưới đây).
Liều duy trì
Liêu duy trì thông thưởng cỏ hiệu quả là 20 mg, uống một lần duy nhất mỗi ngày. Nói chung, nếu không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn sau 2-4 tuần với liều điều trị nào đó thì có thể tăng liều. Liều tối đa sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đổi chứng là 80 mg/ngày.
Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu
Hạ huyết áp có triệu chứng có thế xảy ra khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Điều này dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân đang được điều trị đồng thời với thuốc lợi tiểu. Do đó phải thận trọng vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và/hoặc muối. Nếu được, nên ngưng thuốc lợi tiểu 2-3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Ở bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngưng thuốc lợi tiểu, nên dùng lisinopril với liều khởi đầu 5 mg. Nên theo đổi chức năng thận và lượng kali huyết thanh. Liều lisinopril tiếp theo nên điều chỉnh tủy theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cản thiết, có thể tiếp tục dùng thuốc lợi tiểu.
Điều chỉnh liều sử dụng ở bệnh nhân suy thận
Liều sử dụng ở bệnh nhân suy thận phải được dựa trên độ thanh thải creatinin như được mô tả ở bảng 1 dưới đây
|
Bảng 1: Liều điều chỉnh ở bệnh nhân suy thận |
|
|
Độ thanh thải creatinin (ml/phút) |
Liều khởi đầu (mg/ngày) |
|
<10 ml/phút kể cả bệnh nhân thẩm phân |
2,5 mg* |
|
10-30 ml/phút |
2,5-5 mg |
|
31-80 ml/phút |
5-10 mg |
|
Liều dùng và/ hoặc số lần dùng thuốc cần được điều chỉnh theo đáp ứng về huyết áp |
|
*Liều lượng có thể được chuẩn độ tăng dẫn cho đến khi kiểm soát được huyết áp hoặc tới liều tối đa 40 mg/ngày.
Sử dụng trên trẻ em bị bệnh cao huyết áp từ 6-16 tuổi
Liều khởi đầu khuyến cáo là 2,5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20kg đến < 50kg và 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân ≥ 50kg. Liều dùng nên được điều chỉnh tùy theo có thể đến tối đa 20 mg/ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến – 50kg, và không quá 40 mg/ngày ở bệnh nhân ≥ 50kg. Liều trên 0,61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg/ngày) chưa được nghiên cứu ở trẻ em. Ở trẻ em có chức năng thận suy giảm, nên xem xét khởi đầu với liều thấp hơn hoặc xem xét tăng từng mức liều.
Suy tim
Ở bệnh nhân suy tim có triệu chứng, lisinopril nên được dùng như một trị liệu hỗ trợ cho thuốc lợi tiểu và, khi thích hợp, với digitalis hoặc thuốc chẹn bêta. Lisinopril có thể được sử dụng với liều khởi đầu 2,5 mg. 1 lần/ngày và nên uống khi có sự theo dõi của bác sỹ để xác định tác động lần đầu của thuốc lên huyết áp.
Nên tăng liều lisinopril:
- Từng mức không quá 10 mg.
- Thời gian điều chỉnh liều không ít hơn 2 tuần.
- Liều tối đa bệnh nhân có thể dung nạp lên đến 35 mg, 1 lần/ ngày.
Việc điều chỉnh liều lượng phải được dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân. Ở bệnh nhân có nguy cơ cao hạ huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân thiếu muối có hay không có giảm natri máu, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bệnh nhân đã được điều trị tích cực bằng thuốc lợi tiểu, các rối loạn này phải được điều chỉnh, nếu được, trước khi điều trị với lisinopril. Nên theo dõi chức năng thận và kali huyết thành.
Nhồi máu cơ tim cấp
Nếu cần, bệnh nhân nên được điều trị bằng các thuốc điều trị chuẩn như thuốc tan huyết khối, aspirin và thuốc chẹn bêta. Có thể dùng glyceryl trinitrat đường tĩnh mạch hoặc đường qua dần ủng lúc với lisinopril.
Liều khởi đầu (3 ngày đầu tiên sau con nhồi máu cơ tim)
Điều trị bằng lisinopril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng.
Việc điều trị không nên bắt đầu nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 100mmHg. Liều khởi đầu của lisinopril là 5 mg qua đường uống, tiếp theo là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và 10 mg một lần ngày cho các ngày sau đó. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (< 120mmHg) khi khởi đầu điều trị hay trong vòng 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim nên dùng liều thấp hơn 2,5 mg đường uống.
Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 80ml/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh tùy theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1).
Liều duy trì
Liều duy trì là 10 mg, 1 lần/ngày. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu ≤ 100mmHg), liều duy trì hằng ngày 5 mg nên được giảm tạm thời xuống còn 2,5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu thấp hơn 90mmHg kéo dài lâu hơn một giờ), nên ngưng dùng thuốc lisinopril.
Việc điều trị nên được tiếp tục trong 6 tuần lễ và sau đó bệnh nhân nên được tài đánh giá. Bệnh nhân có các triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng thuốc lisinopril.
Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường
Bệnh nhân tăng huyết áp bị đái tháo đường tuýp 2 và biến chứng thận sớm do đái tháo đường, dùng liều 10mg lisinopril một lần mỗi ngày, có thể tăng lên 20mg một lần mỗi ngày, nếu cần thiết, để đạt được huyết áp tâm trương ở tư thế ngồi dưới 90mmHg
Ở bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 80ml/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1).
Trẻ em
Trẻ nhỏ khi có mẹ dùng thuốc ức chế men chuyển cần được theo dõi chặt chẽ để phòng hạ huyết áp.
Chưa xác định được thuốc có bài tiết vào sữa mẹ hay không, không nên dùng thuốc cho người đang cho con bú.
Thông tin về hiệu quả và độ an toàn của Haepril đối với trẻ em bị cao huyết áp > 6 tuổi còn hạn chế, không có thông tin đổi với các chi định khác. Không khuyến nghị dùng lisinopril cho các chỉ định khác ngoài cao huyết áp.
Không khuyến nghị dùng Haepril ở trẻ em dưới 6 tuổi, hoặc trẻ bị suy thận nặng (GRF <30ml/phút/1,73m2).
Sử dụng thuốc ở người cao tuổi
Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có thay đổi nào liên quan đến tuổi tác bệnh nhãn về hiệu quả và tỉnh an toàn của thuốc. Tuy nhiên, khi tuổi cao kèm theo giảm chức năng thận, nên tuân theo sự hướng dẫn của bảng 1 để xác định liều khởi đầu của Haepril. Sau đó, liều lượng nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp.
Sử dụng trên bệnh nhân ghép thận
Chưa có kinh nghiệm về việc dùng Haepril trên bệnh nhân mới ghép thận. Do vậy, không khuyến cáo dùng lisinopril trên các bệnh nhân này.
5. Chống chỉ định thuốc Haepril
Thuốc Haepril chống chỉ định với người
- Quá mẫn với lisinopril, hay bất kỳ thành phần nào của thuốc Haepril hoặc các thuốc ức chế men chuyển (ACE) khác.
- Tiền sử phủ mạch do dùng thuốc ức chế men chuyển.
- Phù mạch di truyền hoặc vô căn.
- Phụ nữ có thai ở ba tháng giữa thai kỳ và ba tháng cuối thai ký.
Chống chỉ định dùng phối hợp lisinopril với các thuốc chứa aliskiren ở bệnh nhân đái tháo đường hoặc suy thận (GFR< 60ml/phút/1,73m2).
6. Tác dụng không mong muốn của thuốc Haepril
Các tác dụng không mong muốn sau đã được quan sát và ghi nhận trong khi dùng Haepril và các thuốc ức chế men chuyển khác với tần suất xảy ra như sau: rất thường gặp (≥ 10%), thường gặp (≥ 1/100, <1/10), ít gặp (≥ 1/1000, <1/100), hiểm gặp (≥ 1/10.000), <1/1.000), rất hiếm gặp (<1/10.000), tần suất chưa biết.
Haepril gây rối loạn máu và hệ bạch huyết
Hiếm gặp: giảm haemoglobin, giam haematocrit.
Rất hiếm gặp: suy tủy xương, thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt, thiếu máu tán huyết, bệnh hạch bạch huyết, bệnh tự miễn.
Haepril gây rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
Rất hiếm gặp: hạ đường huyết
Rối loạn hệ thần kinh và tâm thần:
Thường sắp: chóng mặt, nhức đầu
Ít gặp: thay đổi khi sắc, dị cảm, chóng mặt, rối loạn vị giác, rối loạn giấc ngủ
Hiếm gặp: lú lẫn tâm thần, rối loạn khứu giác
Tần số chưa biết: triệu chứng trầm cảm, ngắt
Haepril gây rối loạn tim mạch và mạch máu:
Thường gặp: tác động tư thể (bao gồm hạ huyết áp)
Ít gặp: nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, có lẽ là thứ phát do hạ huyết áp quá mức ở
những bệnh nhân có nguy cơ cao, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh. Hiện tượng Raynaud.
Haepril gây rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:
Thưởng gặp: ho
Hiểm gặp: viêm mũi
Rất hiếm gặp: có thất phế quản, viêm xoang. Viêm phê nang do dị ứng/ viêm phổi tăng bạch cầu ái toan.
Haepril gây rối loạn tiêu hóa:
Thường gặp: tiêu chảy, nôn mửa
Ít gặp: buồn nôn, đau bụng và khó tiêu
Hiếm gặp: khô miệng
Rất hiếm gặp: viêm tụy, phủ mạch tại ruột, viêm tế bảo gan hoặc ứ mật, vàng da và suy gan
Haepril gây rối loạn da và mô dưới da:
Ít gặp: phát ban, ngứa
Hiếm gặp: nổi mề đay, rung tóc, bệnh vẩy nến, quá mẫn/ phù thần kinh mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn và/ hoặc thanh quản
Rất hiếm gặp: đổ mồ hôi, bệnh pemphigus, hoại tử biểu bì gây độc, hội chứng Stevens-Johnson, hồng ban đa dụng, u lymphom giả trên da.
Phức hợp triệu chứng đã được ghi nhận và có thể bao gồm một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: sốt, viêm mạch, đau cơ, đau khớp/ viêm khớp, kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, tăng vận tốc máu lắng (ESR), tăng bạch cầu ái toan và tăng bạch cầu, phát ban, nhay cảm ánh sáng hoặc các biểu hiện khác về da có thể xảy ra.
Haepril gây rối loạn thận và tiết niệu:
Thường gặp: rối loạn chức năng thận
Hiếm gặp: u rê huyết, suy thận cấp
Rất hiếm gặp: thiểu niệu/ vô niệu
Haepril gây rối loạn nội tiết:
Hiếm gặp: hội chứng tiết hormon chống lợi niệu không thích hợp (SIADH).
Haepril gây rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú
Ít gặp: Liệt dương
Hiếm gặp: nữ hóa tuyến vú
Haepril gây các rối loạn tổng quát và tình trạng tại chỗ
Hiếm gặp: mệt mỏi, suy nhược
Các kết quả xét nghiệm:
Ít gặp: tăng urê máu, tăng creatinin huyết thanh, tăng men gan, tăng kali máu.
Hiếm gặp: tăng bilirubin huyết thanh, hạ natri máu.
Dữ liệu an toàn từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy lisinopril được dung nạp tốt ở bệnh nhi tăng huyết áp, và do đó thông tin an toàn trong nhóm tuổi này là tương đương như quan sát ở người lớn.
7. Tương tác thuốc
Thuốc lợi tiểu
Khi thêm một thuốc lợi tiểu váo phác đồ điều trị của bệnh nhân đang có dùng lisinopril, tác dụng hạ áp thường sẽ được tăng thêm.
Bệnh nhân đang dùng lợi tiểu và đặc biệt là những bệnh nhân mới được dùng lợi tiểu, đôi khi bị hạ huyết áp quá mức khi dùng thêm lisinopril. Khả năng bị hạ huyết áp có triệu chứng với lisinopril, có thẻ được giảm tối thiểu bằng cách ngừng thuốc lợi tiểu trước khi khởi đầu điều trị với lisinopril.
Chất bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali
Mặc dù trên thử nghiệm lâm sàng kali trong huyết thanh thường nằm trong giới hạn bình thưởng, tỉnh trạng tăng kali máu đã xảy ra ở một số bệnh nhân. Các yếu tố nguy cơ gây tăng kali máu bao gồm suy thận, đái tháo đường và việc sử dụng đồng thời một thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ spironolacton, triamteren hoac amilorid), chất bổ sung kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali. Việc dùng thêm kali, lợi tiểu giữ kali, các chất thế muối có chứa kali, nhất là ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thận, có thể làm tăng kali máu một cách đáng kể
Nếu lisinopril được dùng với một thuốc lợi tiểu mất kali, tỉnh trạng hạ kali máu do lợi tiểu có thể được cải thiện.
Lithium
Sự gia tăng nồng độ lithium huyết thanh và độc tính của lithium có hồi phục đã được ghi nhận khi dùng đồng thời lithium với các thuốc ức chế men chuyển. Việc sử dụng đồng thời với các thuốc lợi tiểu thiazid có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc lithium và làm tăng thêm độc tính của lithium vốn đã tăng lên do dùng đồng thời với các thuốc ức chế men chuyển. Việc dùng lisinopril với lithium không được khuyến nghị, nhưng nếu cần thiết phải phối hợp, phải theo dõi cần thận mức lithium trong huyết thanh.
Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), bao gồm axit acetylsalicylie ≥3/ngày
Dùng thuốc NSAID kéo dài có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp của thuốc ức chế men chuyển. Dùng đồng thời các thuốc NSAIDs với các thuốc ức chế men chuyển gây tác dụng cộng hợp tăng nồng kali huyết thanh và có thể dẫn đến sự suy giảm chức năng thận. Các tác động này thường có thể hồi phục. Trong một số hiếm trường hợp, suy thận cấp có thể xảy ra, đặc biệt là ở những bệnh nhìn tổ chức năng thận bị tổn thương như người già hoặc người bị mất nước.
Vàng
Phản ứng Nitritoid (triệu chứng của sự giãn mạch, bao gồm đỏ bừng, buồn nôn, chóng mặt và hạ huyết áp, mà những triệu chứng này có thể rất nghiêm trọng) sau khi sử dụng vàng dưới dạng tiêm (ví dụ natri aurothiomalat) đã được ghi nhận thường xuyên xảy ra hơn ở những bệnh nhãn được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.
Thuốc điều trị tăng huyết áp khác
Sử dụng đồng thời các thuốc này có thể làm tăng tác dụng họ huyết áp của lisinopril. Khi dùng phối hợp với glyceryl trinitrat và nitrat khác, hoặc các thuốc giãn mạch khác có thể làm giảm huyết áp hơn nữa.
Thuốc chống trầm cảm ba vòng/ thuốc chống loạn thần/ Thuốc gây tê
Khi dùng đồng thời thuốc gây mê, thuốc chống trầm cảm ba vòng và thuốc chống loạn thần với các thuốc ức chế men chuyển có thể làm giảm huyết áp hơn nữa.
Thuốc giống giao cảm
Thuốc giống giao cảm có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp của thuốc ức chế men chuyển,
Thuốc điều trị đái tháo đường
Các nghiên cứu dịch tễ học đã cho rằng dùng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển và thuốc trị đái tháo đường (insulin, thuốc hạ đường huyết dạng uống) có thể làm tăng tác động hạ đường huyết với nguy cơ tụt đường huyết. Hiện tượng này dường như có thể xảy ra nhiều hơn trong những tuần đầu điều trị kết hợp và ở bệnh nhân suy thận.
Axit acetylsalicylic, thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn beta, thuốc nhóm nitrat
Lisinopril có thể được sử dụng đồng thời với axit acetylsalicylic (ở liều các liều đúng cho bệnh lý tim mạch), thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn beta và/ hoặc thuốc nhóm nitrat.
Ức chế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS) với các thuốc chứa aliskiren:
Không khuyến cáo sử dụng lisinopril kết hợp với aliskiren gây ức chế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS) do làm tăng tác dụng phụ như tụt huyết áp, tăng kali máu và giảm chức năng thận (bao gồm cả suy thận cấp).
8. Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc Haepril
Hạ huyết áp có triệu chứng hiếm gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Ở bệnh nhân tăng huyết áp dùng lisinopril, hạ huyết áp có khuynh hướng dễ xảy ra khi bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn ví dụ do thuốc lợi tiêu, chế độ ăn hạn chế muối, thâm phân, tiêu chảy hoặc nôn mửa, tăng huyết áp phụ thuộc renin. Ở bệnh nhân suy tim, có hay không có suy thận kèm theo, họ huyết áp có triệu chứng cũng đã được ghi nhận. Điều này có khả năng xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân suy tim ở mức độ nặng hơn, biểu hiện qua việc dùng thuốc lợi tiểu quai liều cao, giảm nồng độ natri máu hoặc suy chức năng thận. Ở những bệnh nhân có nguy cơ gia tăng bị hạ huyết áp có triệu chứng, khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều nên được theo đời chuyên khoa chặt chè. Cũng nên áp dụng những biện pháp tương tự ở bệnh nhân bị bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não mà ở những bệnh nhân này sự hạ huyết áp quá mức có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
Nếu xảy ra hạ huyết áp, nên để bệnh nhân nắm và, nếu cần, truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Hạ huyết áp thoáng qua không phải là chống chỉ định cho việc dùng những liều kế tiếp, điều thường có thể được thực hiện không khó khăn gì một khi huyết áp đã được nắng lên sau truyền dịch.
Ở một vài bệnh nhân bị suy tim ứ huyết có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp có thể hạ hơn nữa khi dùng lisinopril. Tác dụng này được lường trước và thưởng không phải là lý do để ngưng thuốc. Nếu hạ huyết áp có triệu chứng, có thẻ phải giảm liều hoặc ngừng sử dụng lisinopril.
Hạ huyết áp trong nhồi máu cơ tim cấp
Không được khởi đầu điều trị với lisinopril cho bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp có thêm nguy cơ suy giảm huyết động học trắm trọng sau khi điều trị với thuốc giãn mạch. Đây là những bệnh nhân có huyết áp tâm thu ở mức 100 mmHg hoặc thấp hơn hoặc sốc tim. Trong vòng ba ngày đầu tiên sau nhồi máu cơ tim, nên giảm liều nếu huyết áp tâm thu là 120 mmHg hoặc thấp hơn. Liều duy trì nên giảm xuống 5 mg hoặc tạm thời giảm đên 2,5 mg nêu huyết áp tâm thu là 100 mg hoặc thấp hơn. Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90mmHg kéo dài hơn 1 giờ), nên rượng dùng lisinopril.
Hẹp động mạch chủ và van hai lá/ bệnh cơ tim phì đại
Cũng như các thuốc ức chế men chuyển angiotensin khác, nên thận trọng khi dùng lisinopril cho các bệnh nhân bị hẹp van hai lá, và tắc nghẽn đồng máu ra khỏi tâm thất trái như hợp động mạch chủ hoặc bệnh cơ tim phì đại.
Suy chức năng thận
Trong trường hợp suy thận (độ thanh thải creatinin < 80ml/phút), liều khởi đầu lisinopril phải được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân và sau đó theo chức năng đáp ứng đối với điều trị. Theo dõi thường quy lượng kali và creatinin là một phần của việc thăm khám y khoa thông thường cho các bệnh nhân này.
Ở bệnh nhân suy tim, hạ huyết áp liều đầu với thuốc ức chế men chuyển có thể làm tình trạng rối loạn chức năng thận nặng thiêm. Suy thận cấp, thường là có hồi phục, đã được ghi nhận trong trường hợp này.
Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên hoặc hẹp động mạch thận của thận đơn độc, được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, người ta đã ghi nhận có sự gia tăng urê huyết và creatinin huyết thanh, thường sẽ hồi phục khi ngừng điều trị. Điều này đặc biệt dễ xảy ra ở bệnh nhân có suy thận. Nếu tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận cũng hiện diện, nguy cơ hạ huyết áp nặng và suy thận tăng lên. Ở những bệnh nhân này, nên bắt đầu điều trị dưới sự theo dõi chuyên khoa cẩn thận cùng với việc dùng các liều thấp và điều
chỉnh liều thật cẩn thận. Vì việc điều trị với thuốc lợi tiểu có thể là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng trên nên ngừng các thuốc này và kiểm soát chức năng thận trong vài tuần lễ đầu tiên dùng lisinopril.
Một số bệnh nhân tăng huyết áp mà không có bệnh lý mạch máu thân rõ rệt trước đó có hiện tượng tăng urê huyết và creatinin huyết thanh, thưởng là nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi lisinopril được dùng kèm thuốc lợi tiểu. Điều này dễ có khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân đã bị suy thận. Có thể cần phải giảm liều và hoặc ngừng dùng thuốc lợi tiểu và hoặc lisinopril.
Trong nhồi máu cơ tim cấp, việc điều trị với lisinopril không nên khởi đầu ở bệnh nhân có biểu hiện suy thận, tức là nồng độ creatinin huyết thanh quá 177 micromol/l và/hoặc protein hiệu quả 500 mg 24 giờ.
Nếu rối loạn chức năng thận phát triển trong khi dùng lisinopril (nồng độ creatinin huyết thanh vượt quá 265 micromoll hay gặp đối các trị giá trước khi điều trị), bác sĩ nên xem xét đến việc ngưng dùng lisinopril.
Quá mẫn phù mạch
Phù mạch ở mặt, chi, mỏi, lưới, thanh món và hoặc thanh quản đã được ghi nhận một cách hán hữu ở các bệnh nhân điều trị với thuốc ức chế men chuyển, trong đó có lisinopril. Việc này có thể xảy ra bất cứ khi nào dùng thuốc. Trong trường hợp này, phải ngừng ngay việc dùng lisinopril và phải điều trị và theo dõi thích hợp để bảo đảm các triệu chứng đã hết hoàn toàn trước khi cho bệnh nhân xuất viện. Ngay cả trong những trường hợp sưng phủ chỉ khu trú ở lưỡi, không gây suy hô hấp, bệnh nhân cần được tiếp tục quan sát vì việc điều trị với thuốc kháng histamin và các thuốc corticosteroid có thể không đáp ứng đủ.
Trong vài trường hợp rất hiếm, đã có ghi nhận về việc tử vong do phù mạch liên quan đến phủ thanh quản hoặc phù nề lưỡi. Bệnh nhân có phủ ở lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản, có khả năng gây tắc nghẽn đường hô hấp, đặc biệt là những người có tiền sử phẫu thuật đường hô hấp. Trong những trường hợp này nên áp dụng các biện pháp cấp cứu ngay lập tức như tiêm adrenalin và hoặc duy trì thông thoáng đường hô hấp.
Bệnh nhân nên được theo dõi y khoa cần thận cho đến khi các triệu chứng được giải quyết hoàn toàn và ổn định.
Các thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở bệnh nhân da đen với tỷ lệ cao hơn so với bệnh nhân có màu da khác
Các bệnh nhân có tiền sử phù mạch không do thuốc ức chế men chuyển có thể có nguy cơ bị phù mạch nhiều hơn khi dùng thuốc ức chế men chuyển.
Phản ứng phản vệ ở bệnh nhân thẩm phân máu
Các phản ứng dạng phản vệ đã được ghi nhận ở bệnh nhân đang thẩm phân máu với mảng thẩm phân có tốc độ thẩm phân cao (ví dụ như AN 69) và điều trị cùng lúc với thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân này, cần cân nhắc đến việc đổi loại màng lọc thẩm phân hoặc đổi sang nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.
Phản ứng phản vệ trong khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL)
Ở vài trường hợp hiếm, bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển trong khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp với dextran sulphat xảy ra phản ứng phản vệ đe dọa tính mạng. Các phản ứng này đã không xảy ra khi tạm thời không dùng thuốc ức chế men chuyển trước mỗi lần ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp.
Giải mẫn cảm
Bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (ví dụ nọc độc loài hymenoptera) đã có những phản ứng loại phản vệ kéo dài. Cũng ở những bệnh nhân này các phản ứng này đã không xảy ra khi tạm ngừng thuốc ức chế men chuyển nhưng đã xuất hiện lại khi vô tình sử dụng thuốc trở lại.
Suy gan
Ở một vài trường hợp rất hiếm, thuốc ức chế men chuyển có liên quan đến hội chứng máu khởi phát là tình trạng vàng da ứ mật và tiến triển thánh hoại tử bạo phát và (đôi khi) gây tử vong. Chưa rõ cơ chế của hội chứng này. Bệnh nhân dùng lisinopril khi phát hiện bị vàng da hoặc tăng men gan rõ rệt nên ngừng dùng lisinopril và phải theo dõi y tế thích hợp.
Giảm bạch cầu trung tính/ mất bạch cầu hạt
Giảm bạch cầu trung tính/ mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu đã được bảo cáo ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường và không có yếu tố gây biến chứng khác, giảm bạch cầu hiểm khi xảy ra. Tình trạng giảm bạch cầu trung tính và mắt bạch cầu hạt sẽ hết sau khi ngừng dùng các thuốc tc chế men chuyển. Nên thận trọng khi dùng lisinopril ở những bệnh nhân có bệnh mạch máu tạo keo, đang điều trị ức chế miễn dịch, điều trị bằng allopurinol hoặc procainamid, hoặc có sự kết hợp của các yếu tố gây biến chứng này, đặc biệt ở bệnh nhân trước đó bị suy giảm chức năng thận. Một số bệnh nhân này bị nhiễm trùng nghiêm trọng, mà không đáp ứng với trị liệu kháng sinh tích cực. Nếu lisinopril được sử dụng ở những bệnh nhân như vậy, nên theo đối định ký số lượng bạch cầu và yêu cầu bệnh nhân báo cáo khi có bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào.
Chủng tộc
Các thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở bệnh nhân da đen với tỷ lệ cao hơn so với bệnh nhân
Cũng như các thuốc ức chế men chuyển khác, lisinopril có thể ít có tác dụng hạ huyết áp trên bệnh nhân da đen so với trên các nhóm bệnh nhân khác, có thể do trạng thái renin thấp chiếm tỉ lệ cao ở nhóm bệnh nhân da đen tăng huyết áp.
Ho
Ho đã được ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Điền hình là ho khan, kéo dải và tự hết khi ngừng thuốc. Ho do thuốc ức chế men chuyển phải được xem xét khi chân đoán phân biệt nguyên nhân gây ho.
Phẫu thuật/gây mê
Ở bệnh nhân được đại phẫu hoặc trong khi gây mê bằng các thuốc làm hạ huyết áp, lisinopril cô thể ức chế sự tạo thành angiotensin lI thứ phát do phóng thích renin bù trừ. Nếu hạ huyết áp xảy ra và được cho là do cơ chế này, có thể được điều chỉnh bằng cách bồi hoàn thể tích tuần hoàn.
Tăng kali máu
Tăng kali huyết thanh đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân được điều trị bằng Quốc ức chế men chuyển, kể cả lisinopril. Bệnh nhân có nguy cơ bị tăng kali máu bao gồm những người bi suy thận, đái tháo đường, hoặc những người sử dụng đồng thời thuốc lợi tiểu giữ kali, các chất bổ sung kali học các chất thay thế muối có chứa kali, hoặc những bệnh nhân đang dùng các thuốc khác có làm tăng kali huyết thanh (ví dụ heparin ). Nếu việc dùng đồng thời lisinopril với bất kỳ thuốc nào đã trình bày ở trên được cho là cần thiết, nên theo dõi thường xuyên nồng độ kali huyết thanh.
Bệnh nhân đái tháo đường
Ở những bệnh nhân đái tháo đường đang dùng thuốc uống trị đái tháo đường hoặc insulin, nên kiểm soát chặt chẽ mức đường huyết trong tháng đầu điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.
Lithium: Nói chung không khuyến cáo kết hợp lithium với lisinopril.
9. Sử dụng thuốc Haepril cho phụ nữ mang thai và cho con bú
Phụ nữ mang thai:
Không sử dụng Haepril cho phụ nữ có thai do chưa có đầy đủ dữ liệu an toàn.
Phụ nữ cho con bú:
Không sử dụng Haepril cho phụ nữ con bú do chưa có đầy đủ dữ liệu an toàn.
Phụ nữ có thai và cho con bú
Không nên dùng lisinopril trong ba tháng đầu của thai kỳ. Chống chỉ định dùng lisinopril trong ba tháng giữa và ba tháng cuối của thai kỳ,
Bằng chứng dịch tễ học liên quan đến nguy cơ gây quái thai sau khi tiếp xúc với thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng đầu của thai kỳ chưa được kết luận, tuy nhiên hông thể loại trừ có sự gia tăng nhỏ về nguy cơ. Trừ khi cần phải tiếp tục điều trị với thuốc ức chế men chuyển, bệnh nhân có kế hoạch mang thai nên đổi thuốc điều trị tăng huyết áp khác đã được ghi nhận là an toàn khi dùng cho phụ nữ có thai. Khi xác định có thai, ngừng sử dụng lisinopril ngay lập tức, và chuyển sang liệu pháp điều trị thay thế khác.
Dùng thuốc ức chế men chuyển kéo dài trong ba tháng giữa và ba tháng cuối thai kỳ đã biết gây độc trên bào thai người (giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm còi hóa xương sọ) và độc tính trên trẻ sơ sinh (suy thận, hạ huyết áp, tăng kali huyết).
10. Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
Khi lái xe hoặc vận hành máy móc cần lưu ý là thỉnh thoảng có chóng mặt hoặc mệt mỏi có thể xảy ra trong thời gian điều trị với Haepril.
11. Bảo quản
Bảo quản thuốc Haepril ở nhiệt độ dưới 30 độ C ở nơi khô ráo, tránh ẩm.
Không để thuốc Haepril tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Không dùng thuốc Haepril quá hạn ghi trên bao bì.
12. Mua thuốc Haepril ở đâu?
Hiện nay, Haepril là thuốc kê đơn, vì vậy bạn cần nói rõ các triệu chứng của bệnh nhân để được nhân viên y tế tư vấn và hỗ trợ. Thuốc Haepril có bán tại các bệnh viện hoặc các nhà thuốc lớn.
Mọi người nên tìm hiểu thông tin nhà thuốc thật kỹ để tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng, ảnh hưởng đến quá trình điều trị.
Nếu mọi người ở khu vực Hà Nội có thể mua thuốc có sẵn ở nhà thuốc Thanh Xuân 1 - địa chỉ tại Số 1 Nguyễn Chính, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngoài ra, mọi người cũng có thể gọi điện hoặc nhắn tin qua số hotline của nhà thuốc là: 0325095168 hoặc nhắn trên website nhà thuốc để được nhân viên tư vấn và chăm sóc tận tình.
13.Giá bán
Giá bán thuốc Haepril trên thị trường hiện nay dao động trong khoảng đ/hộp. Tuy nhiên giá thuốc có thể thay đổi phụ thuộc vào địa điểm mua hàng cũng như tùy từng thời điểm.
“Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, mọi người nên đến thăm khám và hỏi ý kiến bác sĩ, dược sĩ có kiến thức chuyên môn để sử dụng an toàn và hiệu quả.”